fbpx

Cá Bớp còn có tên gọi khác là cá Giò sinh sống trong môi trường nước biển. Loài cá này rất phổ biến và thân quen với những người dân miền biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Phú Quốc….Vì vậy rất nhiều người chưa biết nhiều về loài cá này vì vậy Ngọc Thủy sẽ giới thiệu đến tất cả các bạn đọc những thông tin thú vị về cá Bớp cũng như kỹ thuật nuôi cá Bớp thương phẩm mang hiệu quả kinh tế cao

Đặc điểm chung của cá Bớp

Để có thể nắm vững kỹ thuật nuôi cá Bớp Thương phẩm thì một trong những thông tin cơ bả bà con cần nắm được là các đặc điểm về sinh học của loài cá giá trị cao này. Cùng Ngọc Thủy tìm hiểu một số thông tin cơ bản về cá Bớp:

Cá Bớp là cá gì?

Cá Bớp là dòng cá có kích thước lớn có giá trị thương phẩm rất cao. Thịt của cá Bớp có thể chế biến thành rất nhiều món ăn. Không chỉ có vậy, thịt của cá Bớp còn chứa hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao.

Cá Bớp còn có tên tiếng anh là Rachycentron canadum. Người Việt Nam ta ngoài gọi là cá bớp còn có một số cái tên khá như: cá Bớp, cá bóp.

Dòng cá này thuộc họ Rachycentridae và được tìm thấy vào năm 1766.

Đặc điểm hình thái của cá Bớp

kỹ thuật nuôi cá bớp

Cá bớp là dòng cá kích thước lớn, thông thường một chú cá bớp khi trưởng thành có thể nặng từ 5 – 10 cân (có những con còn nặng hơn 10 cân).

Phần đầu của cá Bớp khá to, miệng rộng, hàm răng tương đối sắc nhọn có dạng lưỡi cưa. Mắt của cá khá bé so với tỷ lệ đầu và cơ thể của chúng.

Thân hình của cá Bớp khá tròn và thuôn dài. Phần da tương đối dày, bên dưới lớp da là một lớp mỡ dày.

Đây là đặc điểm giúp cơ thể của chúng có thể dễ dàng thích nghi với mọi điều kiện thời tiết.

Cá Bớp là dòng cá có vảy, tuy nhiên vảy của chúng rất nhỏ và cứng tập trung nhiều ở phần gáy lưng (khu vực gần đầu).

Phần lưng có vây dài và lớn, gần mang có 2 vây sắp xếp song song . Phần đuôi của cá Bớp khá cứng và được chia thùy ở giữa, giống như hình lưỡi liềm.

Cá Bớp thường có màu xám đen, phần bụng hơi có màu xám trắng. Tùy vào môi trường nước mà màu của cá sẽ có độ đậm nhạt khác nhau.

Tuổi thọ trung bình của cá bớp vào khoảng 15 năm.

Đặc điểm môi trường sống

Cá bớp là dòng cá sống đơn độc, chúng chỉ tập trung sống thành bầy khi đến mùa sinh sản chúng mới tập trung sống thành bầy đàn tại các rạn san hô, xác tàu thuyền.

Cá bớp được tìm thấy nhiều nhất tại các vùng biển nhiệt đới thuộc phía đông và Tây của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương trừ các quốc gia như Ấn Độ và Nhật Bản.

Tại Việt Nam, cá Bớp được tìm thấy nhiều nhất ở các vùng biển thuộc Quảng Ninh, Hải Phòng, Bà Rịa Vũng Tàu, Phú Quốc…

Đặc điểm sinh sản

Cá bớp là dòng cá sinh sản theo hình thức đẻ trứng. Thông thường, sau khi cá cái đẻ trứng sẽ để trứng cá thả trôi tự do đến khi nở thành cá con.

Chu kỳ sinh sản của cá bớp thường bắt đầu từ tháng 4 – 10 hàng năm. Cá cái bắt đầu kỳ sinh sản đầu tiên khi chúng đạt 3 tuổi và cá đực đạt 2 năm tuổi.

Kỹ thuật nuôi cá Bớp

Chọn địa điểm xây dựng

Địa điểm nuôi thích hợp là các bãi triều chất đáy là cát bùn và thịt pha cát là tốt nhất. Mặt khác, đáy cát có kết cấu kém nên dễ bị vùi lấp nên cá không thể đào hang xuyên qua bờ được đây là một trong những điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến toàn bộ các kỹ thuật nuôi cá Bớp thương phẩm

  • Nơi có độ mặn dao động trong khoảng 5-25‰.
  • Nơi ít chịu ảnh hưởng của các nguồn nước thải khu công nghiệp.
  • Giao thông thuận lợi cho việc cung cấp vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
  • An ninh trật tự đảm bảo.

Xây dựng ao nuôi

Diện tích thích hợp nhất 200-2000m2, ao sâu 1-1,2m. Dọc ao đào rãnh rộng 2m để thuận lợi cho việc thu hoạch. Xung quanh bờ ao cần chôn phên nứa hay lưới nilon chìm dưới nước ao 60–70cm, cũng có thể đào rãnh quanh bờ rộng 25cm sâu khoảng 60–80cm dưới mặt nước. Mỗi ao nên có 2 cống để tiện cấp và thoát nước khi cần thiết. Trong ao nên thả rong bún, rong đuôi chó, rong câu nhằm tạo môi trường mát cho cá vào mùa hè, yên tĩnh và hấp thụ các loại chất độc trong ao nuôi.

Chuẩn bị ao nuôi cá bớp

Hình thức cải tạo ao như sau:

  • Ao nuôi được lấp hết các lổ hổng ở chân và bờ, làm sạch cỏ dại.
  • Ao nuôi được tát cạn, vét bớt bùn, tu sửa lại bờ ao, cống ao, phát quang bờ ao.
  • Dùng bạt lót xung quanh bờ, tránh tình trạng cá đào hang xuyên bờ đi mất.
  • Tiến hành cày bừa trang phẳng đáy ao.
  • Tiến hành rắc vôi với liều lượng tùy thuộc vào pH đất.
    • Đối với điều kiện ao nuôi ở vùng thường xuyên có pH cao nên bón 5 – 7kg vôi/100m2, phơi đáy 3 – 5 ngày để vôi oxy hóa các chất thải ở đáy sau đó tháo nước và ngâm 2 – 3 ngày và bơm ra.
    • Với ao có pH thấp hoặc ao mới đào cần bón lượng vôi từ 10 – 15kg/100m2 sau đó lấy nước vào ngâm 2 – 3 ngày và bơm nước chua phèn ra khỏi ao, làm như vậy liên tục 1 –2 lần đến khi môi trường ổn định kiểm tra pH trên 6,5.
    • Với ao có pH đáy trung tính không phải thau nước rửa nước vôi bón mà lấy nước mới vào ao.

Sau khi lấy nước vào ao đạt mức 1,2m, sau 3 ngày để toàn bộ trứng cá nở ra cá bột tiến hành bón saponin (hoặc khô dầu sở) với lượng 5 – 10kg/1000m2 diệt cá tạp, địch hại của cá. Vớt xác cá chết khỏi ao.

Vai trò của màu nước giúp ngăn cản sự phát triển của tảo đáy, mặt khác cá bống bớp không thích ánh sáng, ưa sống chui rúc, nếu không có màu nước cá sẽ bị ức chế bởi ánh sáng nên cá tìm cách đào hang trú ẩn.

Bón phân gây màu nước : Dùng 3 – 5 kg Urê và 5 – 7 kg lân/1000m2.

Khi thấy ao có màu xanh nhạt hoặc màu vàng nâu, độ trong đạt 40 – 45cm thì tiến hành thả giống.

Môi trường nước trong ao nuôi khi thả cá là: pH = 7- 8; Độ mặn: 10-15‰; Độ sâu: 0.8-1m nước.

Thả giống

Tốt nhất lấy giống đã ương trong ao đất trong khoảng thời gian hơn 1 tháng nhằm thuần hoá trước khi đưa ra ao nuôi nhằm đảm bảo tỷ lệ sống. Mùa vụ thả giống tốt nhất nên thả vào 2 vụ:

  • Vụ 1 từ tháng 3 đến tháng 8.
  • Vụ 2 từ tháng 8 đến tháng 12.

Vụ 1 không nên thả sớm vị thời tiết đầu năm rét cá dễ bị chết nhiều.
Kích cỡ: Nên chọn cá cỡ 5 – 8cm.
+ Nếu thả cá cỡ cá lớn 60 – 80 con/kg. Khi thu hoạch cá thương phẩm đạt cỡ 60 – 70g/con sau 3 – 4 tháng nuôi. Ưu điểm của cá giống lớn là thời gian nuôi ngắn rút ngắn được mùa vụ, không bị bệnh lở loét, xuất huyết, kích cỡ thương phẩm lớn, tỷ lệ hao hụt thấp.

+ Nếu thả cá nhỏ, thời gian nuôi dài, dịch bệnh nhiều, kích cỡ thương phẩm nhỏ, tỷ lệ hao hụt cao.

Mật độ giống thả:

  • Nếu nuôi quảng canh: Cỡ cá giống từ 3 – 5cm. Mật độ 2 – 3 con/m2
  • Nếu nuôi bán thâm canh: Cỡ cá giống từ 3 -5cm. Mật độ 8 – 10 con/m2.

Bà con đang tìm kiếm một đơn vị cung cấp cá Bớp giống uy tín – chất lượng – hỗ trợ kỹ thuật tốt có thể tham khảo thêm tại Ngọc Thủy. Chúng tôi cam kết cung cấp con giống chất lượng được chọn lọc kỹ càng đảm bảo tỷ lệ sống cao. Liên hệ Hotline: 0972.857.957 (Đặng)

Quá trình chăm sóc cho ăn

Từ khi thả đến 30 ngày tuổi, cho ăn 3-4 kg moi, cá tạp băm nhỏ/100kg giống, sau đó điều chỉnh tăng giảm theo tốc độ tăng trưởng của đàn cá. Để chủ động nguồn thức ăn tươi sống trong thời gian biển động có thể cho ăn moi khô, cá khô ngâm với nước cho mềm, ngoài ra có thể cho ăn thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế với hàm lượng đạm trên 20%, sàng cho ăn đặt ở vị trí cố định cách mặt nước 20-30 cm. Nếu giống cá sinh sản nhân tạo cỡ 2-3 cm, nuôi 1 vụ thì thức ăn ban đầu là cá luộc chín, gỡ xương, chà qua lưới rây bột, cho cá ăn 3-4 lần trong 10 ngày đầu Sau đó cho ăn tôm, tép tươi, cá tạp băm nhỏ cho ăn ngày 2-3 lần kết hợp dùng moi tươi băm nhỏ cho ăn khi không có thức ăn tươi.

Chú ý: Nguồn thức ăn cho cá không bị hư hỏng, ươn thối, được rửa qua nước sạch trước khi cho ăn, giảm được nguồn vi khuẩn có hại trong thức ăn. Giai đoạn 30-45 ngày tuổi vẫn phải cho ăn mồi tươi xay nhỏ, sau đó băm vụn và đến 60 ngày tuổi chọn kích cỡ thức ăn vừa cỡ để cho ăn trực tiếp.

Khi cá nhỏ, thức ăn để vào khay treo ở một vài điểm cố định, cho từ từ từng ít một để cá ăn hết, nếu thiếu thì bổ sung, thừa thì giảm đi. Giai đoạn lớn dùng còng cáy, tôm cá nhỏ cho ăn.

Giảm thức ăn vào mùa hè hay đầu mùa đông, khi nhiệt độ xuống dưới 200C hoặc trên 370C thì giảm lượng thức ăn trong ao. Khi lấy nước vào ao nếu nhiệt độ nước ổn định 28–300C sẽ cho cá ăn tăng 15% tổng trọng lượng cá có trong ao và thường xuyên thay nước mới.

Cỡ cá trung bình (g/con) Lượng cho ăn (%trọng lượng cá)

10

10

20

8

40

6

60

4

80

2

Trong quá trình nuôi cần phải đầu tư cho ăn có chất lượng và trọng lượng thức ăn theo quy trình đề ra nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của cá và giảm tỷ lệ hao hụt do hiện tượng ăn nhau.

Quản lý, chăm sóc môi trường ao nuôi

Trong suốt quá trình nuôi phải thường xuyên theo dõi môi trường ao nuôi, kiểm tra bờ, cống để có biện pháp xử lý tránh tình trạng cá bị thất thoát .Định kỳ thay nước, cấp nước để môi trường nước trong sạch và kích thích cá tăng trưởng.

pH Độ trong Độ mặn Nhiệt độ Độ sâu ao
7,5-8,5 30- 40cm 5- 150/00 20-28oC 0,8-1m

Thu hoạch

Nuôi được 6 tháng tiến hành đánh bắt, thu tỉa những con có trọng lượng lớn

Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị

Bệnh đóng dấu (lở loét)

Dấu hiệu: Bệnh thường xảy ra vào các tháng giao mùa cuối thu đầu đông và cuối xuân hè là phổ biến. Trên thân cá xuất hiện các vết loét hình tròn viền đỏ hoặc viền trắng xung quanh. Cá bị bệnh kém ăn và lây lan rất nhanh nhất là những ao nuôi bị ô nhiễm và thả cá với mật độ cao.

Phòng bệnh: Thay nước sạch thường xuyên, thức ăn tươi sống cần khử trùng bằng thuốc tím tránh cá bị lây nhiễm bệnh qua thức ăn. Dùng tỏi nghiền nhỏ trộn cùng với thức ăn cộng thêm chất kết dính như bột mỳ, bột sắn… cho ăn dùng 200g tỏi cho 100kg cá dùng liên tục trong 3 ngày liền. Định kỳ hàng tháng dùng Tiên Đắc 1 với liều lượng 25g/100kg cá/ngày. Trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục trong 3 ngày.

Trị bệnh: Tát cạn ao, loại bỏ cá đã bị bệnh lở loét ra. Ngoài ra, tiến hành khử trùng lại đáy ao sau đó tắm thuốc tím với lượng 30g/m3 trong 5 – 7 phút.

Dùng Tiên Đắc 1 với liều lượng 50g/100kg cá/ngày. Trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục trong vòng 1 tuần

Bệnh trướng hơi

Dấu hiệu: Bệnh xuất hiện vào mùa hè khi thời tiết biến động bất thường, cá bị bệnh trướng bụng to, bơi lội kém, mất thăng bằng.

Phòng trị bệnh: Tương tự như bệnh lở loét, hoặc dùng Flumequin như hướng dẫn của nhà sản xuất.

Bệnh phỏng rạ

Dấu hiệu: Bệnh xuất hiện quanh năm trên thân cá, xuất hiện các vết màu trắng và phổng rộp lên. Bệnh có thể tự khỏi khi môi trường thay đổi.

Nguyên nhân: Do môi trường khắc nghiệt như mưa hoặc nắng kéo dài.

Phòng bệnh: Tiến hành thay nước định kỳ, quản lý tốt chất lượng nước và màu nước trong ao nuôi, nhất là khi có sự biến động của các yếu tố môi trường.

Trị bệnh: Thay nước cho ao nuôi với lượng trên 50% cá sẽ tự khỏi.

Bệnh rận cá

Dấu hiệu: Trên thân cá xuất hiện rận bám vào da hút chất dinh dưỡng làm cá chậm lớn hoặc trùng mỏ neo ký sinh vào miệng, mang, mô miền hút máu làm cá chậm lớn.

Trị bệnh: Dùng Diprex phun xuống ao với liều lượng 200-400g/1000m3, sau 3 ngày lặp lại và trùng mỏ neo sẽ chết hết.

Chú ý: Cần hạn chế dùng Diprex do chất này có tính tồn lưu và gây ung thư da. Hoặc dùng Hadaclin của công ty bayer cho ăn như hướng dẫn của nhà sản xuất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now